Cách thức giải nghĩa báo cáo tài chính – Bộ chỉ số cốt lõi phân tích sức mạnh tài chính

Cách thức giải nghĩa báo cáo tài chính - Bộ chỉ số cốt lõi phân tích sức mạnh tài chính

Các chỉ số tài chính cung cấp một phương tiện phổ biến để so sánh sức mạnh tài chính và hiệu suất hoạt động của các công ty. Bằng cách phân tích chỉ số, so sánh tỷ lệ theo thời gian thì chúng cũng cho chúng ta thấy rõ về xu hướng ngành, về điều kiện tình hình kinh doanh hiện tại và khả năng sinh lời trong tương lai. Theo tôi, phân tích chỉ số là một cách phân tích phù hợp, đúng đắn để phát triển một bức tranh toàn diện rõ ràng về tính hấp dẫn đầu tư vào một công ty trên quan điểm phân tích của một nhà đầu tư (không phải trên quan điểm của một chủ nợ).

Bằng cách bình thường hóa các dữ liệu báo cáo tài chính, các chỉ số tài chính sẽ cho phép việc phân tích trở nên có ý nghĩa hơn, đặc biệt là khi so sánh các công ty hoặc thực hiện phân tích theo xu hướng, ngành nghề…

Bài viết này nhằm mục đích tổng hợp hóa, phân tích bộ nhóm chỉ số chính có tác động nhiều nhất đến sức khỏe tài chính của một doanh nghiệp. Bài viết sẽ phân nhóm các chỉ số thành ba loại như sau:

  • Hiệu suất hoạt động
  • Thanh khoản và rủi ro tài chính
  • Đo lường thị trường

Cách thức giải nghĩa báo cáo tài chính – Bộ chỉ số cốt lõi phân tích sức mạnh tài chính

Sử dụng dữ liệu báo cáo tài chính làm ví dụ, bài viết nhằm làm rõ cách tính toán đối với khoảng một chục chỉ số chính để đánh giá sức khỏe tài chính thực sự của một công ty. Bài viết cũng thảo luận về cách diễn giải các chỉ số để giúp chúng ta trong quá trình phân tích.

Nếu chúng ta đầu tư vào các cổ phiếu riêng lẻ nhưng phải đấu tranh với cách thức đánh giá sức khỏe các công ty thông qua báo cáo tài chính thì làm thế nào để giải thích chúng là một điểm khởi đầu cần có. Dữ liệu tài chính được sử dụng để minh họa các chỉ số, tỷ lệ so sánh sẽ được lấy từ bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập.

Đối với tất cả các chỉ số tài chính, so sánh với các công ty khác nhau trong cùng một ngành là hữu ích, cần thiết và việc so sánh các chỉ số này trong cùng một khoảng thời gian là rất quan trọng trong việc xác định xu hướng cũng như những sự thay đổi, biến động mà những sự thay đổi, biến động đó có khả năng tác động tiêu cực đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Ngoài ra, các chỉ số có quan hệ mật thiết với nhau, do vậy các chỉ số tài chính nên được kiểm tra đối chiếu với nhau hơn là hoạt động độc lập.

Hiệu suất hoạt động

Các chỉ số trong danh mục hoạt động thường được nhóm thành các chỉ số chỉ tính hiệu quả và khả năng sinh lợi.

Các chỉ số chỉ tính hiệu quả hoạt động sẽ tập trung vào việc giải thích tài sản được quản lý và sử dụng hiệu quả như thế nào và tỷ lệ khả năng sinh lời sẽ tập trung giải thích tích hiệu suất thu nhập liên quan đến hoạt động đầu tư. Cả hai chỉ số này đều là các thử nghiệm để đo lường về khả năng quản lý và mức độ hoàn thành chỉ tiêu công việc nội bộ của công ty.

Bảng 1: Bảng cân đối kế toán

Tài sản ngắn hạn $ Nợ ngắn hạn $
Tiền 320 Các khoản phải trả 540
Các khoản phải thu 980 Chi phí tích dồn 230
Hàng tồn kho 1400 Thuế thu nhập phải trả 60
Chi phí trả trước 100 Thương phiếu phải trả 170
Tổng tài sản ngắn hạn 2,800 Tổng nợ ngắn hạn 1,000
Trái phiếu dài hạn (12%) 900
Bất động sản, nhà xưởng, trang thiết bị:
Vốn chủ sở hữu
Máy móc và trang thiết bị (tổng) 930 Cổ phiếu phổ thông (100,000 cổ phiếu) 700
Trừ: Khấu hao tích lũy 230 Vốn đã góp  700
Lợi nhuận giữ lại 200
Máy móc và trang thiết bị (ròng) 730 Total 1,600
Tổng tài sản 3,500 Tổng nợ và vốn chủ sở hữu 3,500

Bảng 2: Báo cáo thu nhập, lợi nhuận giữ lại (năm tài khóa, đơn vị: nghìn)

Doanh thu bán hàng $8,400
Giá vốn bán hàng 5,600
Lợi nhuận gộp 2,800
Chi phí hoạt động 2,000
Chi phí khấu hao 100
Lợi nhuận hoạt động 700
Chi phí lãi vay 120
Lợi nhuận trước thuế 580
Chi phí thuế thu nhập 290
Lợi nhuận ròng 290
Thu nhập trên mỗi cổ phiếu 2.90
Cổ tức trên mỗi cổ phiếu 1,00
Lợi nhuận giữ lại đầu năm 10
Lợi nhuận ròng 290
Chi trả cổ tức tiền mặt (100)
Lợi nhuận giữ lại của năm 200

Tổng doanh thu tài sản (Total asset turnover):

Câu hỏi đưa ra là công ty đã sử dụng tài sản của mình để tạo ra doanh thu bán hàng tốt như thế nào?

Bằng cách so sánh doanh thu với tổng tài sản, chúng ta có thể thấy rằng quản lý tài sản hiệu quả có thể thực hiện được. Các ngành công nghiệp sản xuất khác nhau đang kể trong tỷ lệ doanh thu tài sản, với chuỗi siêu thị trưng bày doanh thu tài sản cáo và các nhà sản xuất thép cho thấy doanh thu tài sản thấp. Các doanh nghiệp sử dụng tài sản cho thuê cũng sẽ có doanh thu cao. So sánh với các công ty khác nhau trong cùng ngành là rất quan trọng.

Tổng doanh thu tài sản = Doanh thu bán hàng/ Total assets = $8,400/$3,500 = 2.4

Tỷ lệ quá cao so với các công ty khác nhau trong ngành có thể cho thấy rằng việc không đủ tài sản để phát triển và bán hàng trong tương lai là có khả năng xảy ra; ngược lại, doanh thu tài sản quá thấp hàm ý cho sự dư thừa và doanh thu tài sản, hiệu suất doanh thu tài sản quá thấp tương ứng với khối lượng bán hàng.

Doanh thu hàng tồn kho = Chi phí bán hàng/hàng tồn kho = $5,600/$1,400 = 4.0

Doanh thu hàng tồn kho (Inventory turnover)

Tương tự như tổng doanh thu tài sản, nhưng chỉ số này chỉ tập trung vào một tài sản chính – Đó là hàng tồn kho. Chỉ số này sử dụng giá vốn/chi phí hàng bán thay vì doanh số bán hàng, bởi vì cả chi phí hàng bán và hàng tồn kho đều được ghi nhận theo chi phi.

Biên lợi nhuận gộp = Lợi nhuận gộp/Doanh thu bán hàng = $2,800/$8,400 = 0.33 <=> 33%

Biên lợi nhuận gdp (Gross profit margin): Chi sé này cho biết các quyết định liên quan đến chi phí và giá cơ bản của công ty. Biên độ càng lớn và tỷ suất lợi nhuận càng ổn định theo thời gian thì lợi nhuận kỳ vọng của công ty càng cao.

Biên lợi nhuận hoạt động = Lợi nhuận từ hoạt động/Doanh thu bán hàng = $700/$8,400 = 0.08% <=> 8%

Biên lợi nhuận hoạt động (Operating earnings margin): Biên độ này thường phản ánh chi phí quản lý có thể kiểm soát trước lãi và thuế. Một lần nữa, biên độ càng cao và ổn định theo thời gian càng cao thì công ty càng ít rủi ro và có lợi nhuận cao hơn.

Biên lợi nhuận ròng = Lợi nhuận ròng/Doanh thu bán hàng = $290/$8,400 =0.03 <=> 3%

Biên lợi nhuận ròng (Net earnings margin): Day là mức lợi nhuận theo biên độ cuối cùng và chỉ số này chỉ ra bộ phận quản trị công ty đã có thể biến doanh thu bán ne sau khi trừ tất cẢ các chi phí (bao gồm lãi suất vay phải trả và thuế phải trả nhưng trước khi chỉ trả cổ tức) thành lợi nhuận tốt như thế nào.

Lợi nhuận trên Tổng tài sản = Lợi nhuận ròng/Tổng tài sản = $290/$3,500 = 0.08 <=> 8%

Lợi nhuận trên tổng tài sản (Return on Total Assets): Chỉ số này cho biết lợi nhuận thu được trên tổng tài sản của công ty. Lợi nhuận càng cao hàm ý tài sản sinh lời và được quản lý tốt.

Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận ròng/Vốn chủ sở hữu = $290/$1,600 =0.18 <=> 18%

Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của cổ đông (Return on Stockholders Equity): Đây là một chỉ số cực kỳ quan trọng, nó đo lường về hiệu suất đầu tư của cổ đông đó là “cổ đông trong công ty kiếm được bao nhiêu tiền từ một đồng đầu tư. Chỉ số này, đôi khi được gọi là lợi tức trên vốn chủ sở hữu hoặc ROE (return on equity), chỉ số này khi đo lường sẽ tương đối nhạy cảm với số vốn nợ được sử dụng so với vốn chủ sở hữu. Một công ty có đòn bẩy tài chính cao – nói cách khác, rất nhiều nợ (vốn nợ) – có thể tạo ra lợi nhuận cao trên vốn chủ sở hữu của cổ đông, nhưng sẽ có những rủi ro đáng kể.

Thanh khoản và rủi ro tài chính

Các chỉ số thanh khoản (Liquidity raTios): Là một trong những chỉ số được sử dụng rộng rãi nhất, bên cạnh các chỉ số khả năng sinh lời. Chỉ số này đặc biệt quan trọng đối với các chủ nợ. Các chỉ số này đo lường khả năng của công ty để đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn của mình. Mức độ thanh khoản cần thiết thay đổi theo từng ngành. Một số ngành công nghiệp có nhiều tiền (thanh khoản cao hơn) so với những ngành khác.

Ví dụ, các cửa hàng tạp hóa sẽ cần thêm nhiều tiền mặt để thu mua hàng hóa, hàng tồn kho liên tục so với các công ty phần mềm, do đó chỉ số thanh khoản của các công ty trong hai ngành này không thể so sánh được với nhau. Điều quan trọng cần lưu ý đó là xu hướng của công ty về tỷ lệ thanh khoản theo chu kỳ thời gian.

Chỉ số thanh khoản = Tài sản ngắn hạn/Nợ ngắn hạn = $2,800/$1,000 =2.8

Chỉ số thanh khoản ngắn hạn (Current ratio): Một chỉ số thanh khoản cao cho thấy tính thanh khoản cao của tài sản ngắn hạn và có ít rủi ro về rắc rối tài chính. Một chỉ số thanh khoản tốt sẽ giao động từ 1 đến 1.5 (các tài sản ngắn hạn được tối ưu hóa so với nợ ngắn hạn). Còn một chỉ số thanh khoản quá cao (giao động từ 1.5 – 2 hoặc lớn hơn 2) có thể cho thấy một khoản đầu tư không cần thiết vào tài sản ngắn hạn tức là dư thừa tài sản ngắn hạn không sử dụng hiệu quả hoặc không thu được khoản phải thu hoặc quá nhiều hàng tồn kho chưa bán được, tất cả đều ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập. Ngược lại Tỷ lệ quá thấp (nhỏ hơn 1) có nghĩa là tính thanh khoản thấp, khả năng không thể đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn và các nghĩa Vụ ngắn hạn khác khi đến bạn.

Chỉ số thanh khoản nhanh = (Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho)/Nợ ngắn hạn = ($2,800 – $1,400)/$1,000 =14

Chỉ số thanh khoản nhanh (Quick ratio): Là chỉ số thanh khoản được sử dụng chặt chế nghiêm ngặt hơn so với chỉ số thanh khoản ngắn hạn. Chỉ số này so sánh tiền mặt, chứng khoán có thể bán ngắn hạn và các khoản phải thu đối với các khoản nợ ngắn bạn. Ý nghĩa đằng sau chỉ số thanh khoản nhanh là các chỉ tiết đơn hàng nhất định, chẳng hạn như chi phí trả trước, đã được thanh toán để sử dụng trong tương lai và không thể chuyển đổi nhanh chóng và dễ dàng về tiền mặt cho mục đích thanh khoản.

Chỉ số thanh khoản nhanh này loại bỏ những tài sản ngắn hạn có khả năng không thể chuyển đổi nhanh chóng thành tiền mặt – Ví dụ như hàng tồn kho của công ty là một trong những tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản thành tiền mặt chậm nhất. Do vậy chỉ số thanh khoản nhanh càng cao thì khả năng thanh khoản nhanh của công ty càng cao.

Rủi ro tài chính: Rủi ro tài chính thường được đo lường bằng chỉ số khả năng thanh toán dài hạn (Solvency ratio), trong đó chia ra ba chỉ số chính (Nợ trên Tổng tài sản, Nợ trên tổng vốn và Nợ trên vốn chủ sở hữu). Điều quan trọng là chúng ta phải lưu ý xem xét vì nợ làm tăng thu nhập và cũng gây ra thua lỗ. Trong khi việc sử dụng các quỹ cho vay, đòn bẩy tài chính có thể làm tăng lợi tức trên vốn chủ sở hữu của cổ đông, lãi suất đối với khoản vay/nợ được cố định và phải được thanh toán bất kể mức lợi nhuận thu được là bao nhiêu.

Chỉ số khả năng thanh toán dài hạn (Solvency ratios): Chỉ số này đo lường khả năng của công ty để đáp ứng các nghĩa vụ dài hạn của công ty. Phân tích các chỉ số khả năng thanh toán dài hạn cung cấp thông tin chỉ tiết về cấu trúc vốn của công ty, cũng như mức độ đòn bẩy tài chính mà một công ty đang sử dụng. Một số chỉ số khả năng thanh toán cho phép các nhà đầu tư xem liêu một công ty có dòng tiền đầy đủ để liên tục thanh toán lãi suất và các khoản phí cố định khác. Nếu một công ty không có đủ dòng tiền, công ty có nhiều khả năng bị quá tải gánh nặng nợ vay và nợ trái phiếu có thể buộc công ty phải rơi vào khả năng phá sản.

Tổng nợ trên Tổng tài sản = Tổng nợ/Tổng Tài sản = $1,900/$3,500= 0,54 <=> 54%

Nợ trên tổng tài sản (Debt to Total assets): Chỉ số này đo lường phần trăm tài sản được tài trợ bằng nợ, cả ngắn và dài hạn. Chỉ số này càng cao thì khả năng biến động bất ổn lợi nhuận tiềm năng càng lớn và khả năng vỡ nợ càng lớn. Do nợ phải trả cộng với vốn chủ sở hữu bằng tổng tài sản, 100% trừ đi tỷ lệ nợ trên tổng tài sản theo tỷ lệ phần trăm cho phần trăm tài sản được tài trợ bởi cổ đông thông qua việc bán cổ phiếu phổ thông và lợi nhuận giữ lại.

Nợ trên Tổng vốn = Nợ dài hạn/(Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu) = $900/($900 +$1,600) = 0.36 <=> 36%

Nợ trên tổng vốn (Debt to Total Capital): Một biện pháp thường được sử dụng khác về đòn bẩy tài chính và rủi ro. Nợ trong trường hợp này là nợ dài hạn và vốn là để cập đến tất cả các nguồn vốn dài hạn – nợ dài hạn cộng với vốn chủ sở hữu của cổ đồng.

Việc giải thích chỉ số này tương tự như tỷ lệ nợ trên tổng tài sản – một chỉ số cao cho thấy rủi ro cao và chỉ số thấp cho thấy rủi ro tương đối thấp. Tuy nhiên, chỉ số này không bao gồm tổng nợ phải trả nhiên, chỉ số này không bao gồm tổng nợ phải trả và do đó không thể so sánh được với tổng tài sản trong ngữ cảnh nguồn vốn sử dụng,

Khả năng chi trả lãi vay = Lợi nhuận hoạt động/Lãi phải trả = $700/$120 = 5.8

Khả năng chi trả lãi vay (Interest Coverage): Chỉ số này là thước đo rủi ro về khả năng thanh toán lãi vay. Nó cho thấy một công ty có khả năng tạo ra lợi nhuận tương đối so với lãi suất như thế nào – nói cách khác; Công ty có thể chỉ trả các khoản thanh toán lãi suất vay phải trả là bao nhiêu lần.

Khả năng chỉ trả càng lớn và ổn định hơn theo thời gian thì rủi ro không có khả năng thanh toán lãi vay càng thấp. Chỉ số này là một biến số chính được sử dụng bởi các cơ quan xếp hạng tín dụng để thẩm định xếp hạng tín nhiệm tín dụng khách hàng vay doanh nghiệp.

Đo lường thị trường

Có rất nhiều biện pháp làm thế nào thị trường phản ứng với các nguyên tắc cơ bản hiện tại của công ty và hiệu suất hoạt động dự kiến và rủi ro tài chính Những tỷ lệ này thường liên quan đến các biến báo cáo thu nhập theo một cách nào đó với giá thị trường hiện tại của cổ phiếu phổ thông.

Việc quản lý của công ty nên được cam kết tối đa hóa giá trị thị trường của cổ phiếu phổ thông và nhà đầu tư nên quan tâm đến việc tối đa hóa tổng lợi nhuận – cổ tức cộng với lợi nhuận vốn. Biết đánh giá hiện tại của thị trường về hiệu suất hoạt động của công ty có thể cho thấy những thay đổi về hiệu suất đó sẽ được phản ánh như thế nào trong những thay đổi về giá cổ phiếu.

Đối với các ví dụ đang sử dụng, tôi giả định rằng giá thị trường hiện tại trên mỗi cổ phiếu là 20 đô la.

Tỷ lệ thu nhập trên giá cổ phiếu = Giá thị trường trên mỗi cổ phiếu/Thu nhập trên mỗi cổ phiếu = $20/$2.90 = 6.9

Tỷ lệ thu nhập trên giá cổ phiếu (Price-earning ratio): Chỉ số này cho biết số tiễn mà thị trường sẵn sàng trả (được biểu thị bằng giá cổ phiếu) cho thu nhập trên mỗi cổ phiếu. Tỷ lệ thu nhập trên giá cổ phiếu cao có nghĩa là thị trường kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận cao và có thể có rủi ro cao tương xứng với rủi ro đạt được và duy trì tăng trưởng; ngược lại thu nhập trên giá cổ phiếu thấp ngụ ý tăng trưởng thu nhập thấp có thể đi kèm với rủi ro cao.

Tỷ lệ chi trả cổ tức = chi trả cổ tức trên mỗi cổ phần/thu nhập trên mỗi cổ phiếu = $1.00/$2.90 = 0.34 <=> 34%

Tỷ lệ chi trả cổ tức (Dividend payout ratio): Tỷ lệ này cho biết công ty đang làm gì với thu nhập của mình. Một công ty trả cổ tức bằng tiền mặt đang chọn không giữ lại và tái đầu tư các quỹ này vào công ty. Từ quan điểm đầu tư, nếu có cơ hội để giữ lại lợi nhuận có lãi, thì sẽ không có cổ tức đáng kể nào được trả – trường hợp cổ điển về tăng trưởng công ty. Trong phạm vi mức tăng trưởng không được dự đoán hoặc có cơ hội đầu tư sinh lời không có sẵn, công ty sẽ thanh toán thu nhập bằng cổ tức cho cổ đông. Tỷ lệ phần trăm càng cao, các cơ hội đầu tư nội bộ ít hơn và mức độ chỉ trả cổ tức sẽ thấp hơn.

Lợi tức từ cổ tức = Cổ tức trên mỗi cổ phiếu/Giá thị trường trên mỗi cổ phiếu = $1.00/$20.00 =0.05 <=> 50%

Lợi tức cổ tức (Dividend yield): Chi trả cổ tức bằng tiền mặt hàng năm liên quan đến giá cổ phiếu đưa ra lợi suất cổ tức trên mỗi một cổ phiếu phổ thông. Lợi tức cổ tức cao thường liên quan đến các tình huống tăng trưởng thấp và sản lượng cổ tức thấp hoặc bằng không.

Đối với nhà đầu tư, lợi tức cổ tức chỉ là một phần của tổng lợi nhuận; phần khác là những thay đổi trong giá trị thị trường của cổ phiếu phổ thông – giá trị tài sản tăng lên trên tổng vốn.

Kết luận

Phân tích, giải nghĩa chỉ số tài chính là một dạng phân tích cơ bản được liên kết với nhau thông qua ba báo cáo tài chính thường được các công ty sử dụng đó là báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (thể hiện lỗ/lãi trong năm), báo cáo cân đối kế toán (thể hiện cấu trúc vốn của công ty cân đối giữa tài sản có và tài sản nợ) và báo cáo lưu chuyển tiền tệ (thể hiện mức độ dòng tiền ra vào qua hoạt động sản xuất kinh doanh và số dư tiền trong năm).

Chỉ số tài chính cung cấp các số liệu hữu ích có thể so sánh giữa các ngành và lĩnh vực hoạt động qua các năm. Sử dụng các chỉ số tài chính, các nhà đầu tư có thể phát triển được khả năng cảm nhận, giác quan thứ sáu về sức hấp dẫn đầu tư của công ty dựa trên vị trí cạnh tranh, sức mạnh tài chính và khả năng sinh lời của công ty đó.

Phân tích các chỉ số tài chính dựa trên lịch sử của báo cáo tài chính là việc làm quan trọng, cần thiết cho “những gì đã xảy ra” để dự báo được tối đa sự chính xác nhất trong tương lai. Tuy nhiên, phân tích “cái gì sẽ được làm,” “cái gì có khả năng tiếp tục xảy ra trong tương lai” thì vẫn luôn là một “nghệ thuật” cần được tiếp tục phát triển.

Nó đòi hỏi khả năng tổng hợp thông tin của nhà đầu tư, kiến thức, tư duy tài chính, khả năng nhạy bén đối với thị trường, ngành nghề, tốc độ xử lý cũng như là tính minh bạch của các báo cáo tài chính được cung cấp bởi các công ty, tổ chức doanh nghiệp.

Sự hiểu biết về cách thức tính toán và giải thích các con số và nguồn dữ liệu tài chính để phân tích chỉ số, so sánh tỷ lệ, giúp nhà đầu tư cá nhân hiểu được hiệu suất hoạt động của công ty mà công ty đó có thể phản ứng lại với sự biến động của môi trường kinh doanh, tài chính và kinh tế khác nhau như thế nào

Trước khi đầu tư vào cổ phiếu hoặc trái phiếu phổ thông của một công ty, chúng ta nên nắm bắt được khuynh hướng lịch sử hoạt động của công ty đã được phát triển như thế nào, cách công ty đó được so sánh với các công ty khác trong cùng ngành như thế nào và đối với thị trường nó đang hoạt động nói chung như thế nào.

Nguồn tham khảo: NASATI

Mong rằng qua bài viết “Cách thức giải nghĩa báo cáo tài chính – Bộ chỉ số cốt lõi phân tích sức mạnh tài chính” của Phân tích tài chính trên đây sẽ giúp các bạn nắm rõ được bộ nhóm chỉ số chính có tác động nhiều nhất đến sức khỏe tài chính của một doanh nghiệp.

Tham khảo: Học phân tích báo cáo tài chính ở đâu tốt?

Cách thức giải nghĩa báo cáo tài chính – Bộ chỉ số cốt lõi phân tích sức mạnh tài chính
5 (100%) 1 vote

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*