Phân tích điều kiện cần thiết để nâng cao khả năng sinh lợi

Điều kiện nâng cao khả năng sinh lợi

Hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp chỉ có thể đạt được khi doanh nghiệp có khả năng sinh lợi cao. Vì thế, có thể thu được khả năng sinh lợi cao, doanh nghiệp nhất thiết phải áp dụng đồng bộ các biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực trong kịnh doanh, nâng cao được hiệu suất (năng suất) và hiệu năng hoạt động. Nâng cao hiệu suất công việc và hiệu năng hoạt động là những điều kiện tiên quyết để nâng cao khả năng sinh lợi của doanh nghiệp.

Khái quát về các điều kiện cần thiết để nâng cáo khả năng sinh lợi

Hiệu suất hoạt động thể hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả đầu ra thu được với lượng chi phí hay yếu tố đầu vào sử dụng để tạo ra kết quả

Thông qua hiệu suất hoạt động, người sử dụng thông tin biết được kết quả hoạt đông của doanh nghiệp thực hiện được trong một khoảng thời gian nhất định hay kết quả hoạt động mà một đơn vị chi phí đầu vào hay một đơn vị yếu tố đầu vào mang lại. Hiệu suất hoạt động chính là cơ sở, là điều kiện tiền đề để bào đảm cho doanh nghiệp có thể đạt được khả năng sinh lợi cao.

Hiệu năng hoạt động (hay năng lực hoạt động) của doanh nghiệp phản ánh kết quả hoạt động mà doanh nghiệp có thể đạt được khi sử dụng các yếu tố đầu vào trong quá trình HĐKD. Hiệu năng hoạt động của doanh nghiệp thể hiện qua các chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển của các yếu tố đầu vào hay tốc độ thanh toán nợ phải thu, nợ phải trả. Doanh nghiệp chỉ có thể đạt được hiệu năng hoạt động cao khi và chỉ khi hiệu suất hoạt động cao. Cũng như hiệu suất hoạt động, hiệu năng hoạt động cũng là một trong những điều kiện cần thiết để bảo đảm cho hoạt động của doanh nghiệp thu được khả năng sinh lợi cao.

Như vậy, doanh nghiệp chỉ có thể đạt được lượng lợi nhuận trên một đơn vị yếu tố đầu vào hay trên một đơn vị chi phí đầu vào hoặc trên một đơn vị doanh thu cao nhất, tức là đạt được khả năng sinh lợi cao nhất khi và chỉ khi hoạt động của doanh nghiệp mang lại hiệu suất hoạt động và hiệu năng hoạt động cao nhất.

Điều này cũng đã được chứng minh qua các nội dung phân tích khả năng sinh lợi của tài sản, của VCSH, của chi phí và của từng bộ phận kinh doanh (lĩnh vực kinh doanh và khu vực địa lý) nói trên

Trong số các điều kiện cần thiết để nâng cao khả năng sinh lợi của các yếu tố đầu vào, khả năng tạo doanh thu thuần của tài sản (tổng tài sản, TSDH dùng cho HĐKD, TSCĐ, TSNH, các khoản phải thu, HTK) luôn giữ vai trò quan trọng và mang tính bền vững.

Sử dụng hợp lý, hiệu quả tài sản sẽ nâng cao được hiệu suất và hiệu năng hoạt động, tăng được doanh thu đầu ra, góp phần tăng lợi nhuận thu được. học nghiệp vụ xuất nhập khẩu

Phân tích khả năng tạo doanh thu thuần của tài sản – một trong những yếu tố quan trọng, quyết định kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Đối với bộ phận TSNH – là bộ phận có thời gian luân chuyển ngắn, việc phân tích không chỉ dừng lại ở khả năng tạo doanh thu mà còn xem xét đến các nhân tố tác động đến thời gian luân chuyển và ảnh hưởng của tốc độ luân chuyển đến tình hình sử dụng TSNH trong kỳ

Điều kiện nâng cao khả năng sinh lợi

Phân tích khả năng tạo doanh thu của tài sản

Khả năng tạo doanh thu của tài sản thể hiện qua số lần luân chuyển của tài sản, cho biết một đồng tài sản bình quân sử dụng trong kinh doanh mang về bao nhiêu đồng doanh thu thuần.

Thông qua việc xem xét, phân tích khả năng doanh thu của tài sản, người sử dụng thông tin có thể đánh giá được trình độ quản lý, dầu tư và sử dụng vốn của doanh nghiệp

Khả năng tạo doanh thu của tài sản thường được đo lường qua các chỉ tiêu dưới đây

  • Số lần luân chuyển của tài sản (TAT)

Chỉ tiêu này cho biết số lần luân chuyển của toàn bộ tài sản trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Trị số của chi tiêu TAT càng lớn, khả năng tạo doanh thu thuần của tài sản càng cao, doanh nghiệp càng có điều kiện để nâng cao khả năng sinh lợi

Ngược lại, trị số của TAT càng nhỏ, khả năng tạo doanh thu thuần của tài sản càng thấp, doanh nghiệp càng ít có điều kiện để nâng cao khả năng sinh lợi

  • Số lần luân chuyển của TSDH sử dụng cho HĐKD

Số luân chuyển của TSDH sử dụng cho HĐKD

Tương tự như TAT, chỉ tiêu “số lần luân chuyển của TSDH sử dụng cho HĐKD” cho biết một đồng TSDH sử dụng cho HĐKD trong kỳ tạo ra mấy đồng doanh thu thuần

Các ch tiêu phản ánh số lần luân chuyển của TSCĐ, của tài sản thuần thuộc HĐKD hay của tài sản sử dụng cho HĐKD cũng mang ý nghĩa tương tự; nghĩa là phản ánh khả năng tạo doanh thu thuần của TSCĐ, của tài sản thuần sử dụng cho HĐKD hay tài sản sử dụng cho HĐKD

  • Số lần luân chuyển của TSCĐ
  • Số lần luân chuyển của tài sản thuần thuộc HĐKD

Số lần luân chuyên của tài sản thuần thuộc HĐKD

Số lần luân chuyển của tài sản thuần thuộc HĐKD

  • Số lần luân chuyển của tài sản sử dụng cho HĐKD

Số lần luân chuyển của tài sản sử dụng cho HĐKD

Nội dung phân tích khả năng tạo ra doanh thu của tài sản bao gồm

– Phân tích tình hình biến động về khả năng tạo doanh thu của tài sản

Thông qua việc đánh giá tình hình biến động và xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tạo doanh thu của từng loại tài sản nói trên, các nhà phân tích sẽ đề xuất các giải pháp thích hợp để không ngừng nâng cao hiệu năng sử dụng tài sản và khả năng tạo ra doanh thu của tài sản.

– Phân tích xu hướng và nhịp điệu tăng trưởng tạo doanh thu của tài sản.

Không chỉ dừng lại ở việc phân tích tình hình biến ộng, nội dung phân tích này còn cung cấp cho những người sử dụng thông tin nắm được xu hướng và nhịp điệu tăng trưởng khả năng tạo doanh thu của tài sản. Qua đó, đánh giá được trình độ quản lý, đầu tư và sử dụng vốn nói chung và tài sản nói riêng của doanh nghiệp. Đồng thời, dự đoán được mức độ ổn định và bền vững của sự tăng trưởng

Quy trình và cách thức phân tích tình hình biến động về khả năng tạo doanh thu của tài sản như sau:

– Đánh giá khá quát khả năng tạo doanh thu của tài sản

Tùy theo mục đích xem xét khả năng tạo doanh thu của từng loại tài sản, đánh giá khá quát khả năng tạo ra doanh thu của tài sản được tiến hành bằng cách tính ra và so sánh trị số của từng chỉ tiêu phản ánh khả năng tạo doanh thu giữa kỳ phân tích (năm nay, kỳ này) với kỳ gốc (năm trước, kỳ trước) hoặc so sánh với bình quân ngành hay so sánh với đối thủ cạnh tranh cả về tuyệt đối và số tương đối rồi căn cứ vào kết quả so sánh để nêu lên nhận xét. Kết quả so sánh sẽ cho người sử dụng thông tin biết được khả năng tạo doanh thu của tài sản kỳ phân tích cao hơn (hay thấp hơn) kỳ gốc bình quân ngành hay đối thủ cạnh tranh

>>> khóa học phân tích tài chính doanh nghiệp

– Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về khả năng tạo doanh thu của từng loại tài sản:

Khả năng tạo doanh thu của từng loại tài sản chịu ảnh hưởng của hai nhân tố: tài sản bình quân từng loại và doanh thu thuần. Sự biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc về khả năng tạo doanh thu của từng loại tài sản chịu tác động trưc tiếp của hai nhân tố này. Mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động về khả năng tạo doanh thu của tài sản được xác định theo kỹ thuật thay thế liên hoàn

Chẳng hạn, sự biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉ tiêu TAT chịu ảnh hưởng của nhân tố “Tổng tài sản bình quân” (ATA) và nhân tố “ Doanh thu thuần” (NR) với mức ảnh hưởng cụ thể được xác định như sau

Mức ảnh hưởng của nhân tố tổng tài sản bình quân

Mức ảnh hưởng của nhân tố tổng tài sản bình quân

Mức ảnh hưởng của nhân tố doanh thu thuần

Mức ảnh hưởng của nhân tố doanh thu thuần

– Tổng hợp nhân tố ảnh hưởng, rút ra nhận xét, kiến nghị và kết luận:

Sau khi tổng hợp nhân tố ảnh hưởng, các nhà phân tích sẽ nêu lên nhận xét về khả năng tạo doanh thu cũng như kiến nghị các biện pháp nâng cao khả năng tạo doanh thu của tài sản. Bên cạnh việc mở rộng quy mô kinh doanh, quy mô tiêu thụ, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, mở rộng thị trường, tăng cường quảng cáo, giới thiệu sản phẩn, hàng hóa, áp dụng các phương thức tiêu thụ, phương thức thanh toán và hình thức thanh toán phù hợp;… Doanh nghiệp cần chú trọng đến công tác chăm sóc khách hàng, công tác hậu mãi, nhượng bán những tài sản không cần dùng hoặc sử dụng không có hiệu quả hay hiệu quả thấp; đầu tư máy móc, thiết bị với công nghệ hiện đại;…

Để thuận tiện cho phân tích, có thể lập bảng sau:

Bảng 1: Phân tích khả năng tạo doanh thu của tài sản

Phân tích khả năng tạo doanh thu của tài sản

Phân tích xu hướng và nhịp điệu tăng trưởng khả năng tạo doanh thu của từng loại tài sản được thực hiện bằng cách tính ra các chỉ tiêu phản ánh tốc độ tăng trưởng định gốc và tốc độ tăng trưởng liên hoàn về khả năng tạo doanh thu của tài sản theo thời gian. Bằng việc xem xét một chuỗi trị số của các chỉ tiêu phản ánh tốc độ tăng trưởng định gốc (phản ánh xu hướng tăng trưởng) và tốc độ tăng trưởng liên hoàn (phản ánh nhịp điệu tăng trưởng theo thời gian và sử dụng đồ thị (hoặc biểu đồ) để biểu hiện, người sử dụng thông tin có thể biết được xu hướng và nhịp điệu tăng trưởng khả năng về doanh thu của từng loại tài sản

Phân tích xu hướng và nhịp điệu tăng trưởng khả năng tạo doanh thu của tài sản được thực hiện bằng cách tính ra trị số theo thời gian của chỉ tiêu “Tốc độ tăng trưởng định gốc về khả năng tạo doanh thu của tài sản” và “Tôc độ tăng trưởng liên hoàn về khả năng tạo doanh thu của tài sản” rồi sử dụng đồ thị (hoặc biểu đồ) để thể hiện

Bằng việc xem xét đường đồ thị thể hiện chuỗi trị số của các chỉ tiêu phản ánh tốc ộ tăng trưởng định kỳ gốc (phản ánh xu hướng tăng trưởng) và tốc độ tăng trưởng liên hoàn (phản ánh nhịp điệu) theo thời gian, người sử dụng thông tin có thể biết được xu hướng và nhịp điệu tăng trưởng khả năng tạo doanh thu của tài sản

Phân tích tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn

TSNH là một loại tài sản trong doanh nghiệp có thời gian hoạt động ngắn, trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh thông thường. TSNH bao gồm tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, HTK và TSNH khác. Những TSNH này có thể chuyển đổi thành tiền bán hay sử dụng trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp

Mặc dù có thời gian hoạt động ngắn nhưng loại tài sản này lại chiếm tỷ trọng cao trong mọi loại hình doanh nghiệp. Vì có thời gian hoạt động ngắn nên nên việc nâng cao tốc độ luân chuyển của loại tài sản này luôn là một trong những mục tiêu phấn đấu của các nhà quản trị,

Nâng cao tốc độ luân chuyển của TSNH cũng đồng nghĩa với việc khiến cho tài sản vận động nhanh hơn cũng như chu kỳ hoạt động của TSNH ngắn lại

TSNH xuất hiện trọng nhiều hoạt động của doanh nghiệp từ khâu dự trữ đến sản xuất rồi tiêu thụ dưới nhiều hình thái biểu hiện khác nhau từ thước đo tiền tệ (giá trị) đến thước đo hiện vật. Bởi vậy, cần phải phân tích tốc độ luân chuyển của TSNH để tìm ra những nguyên nhân và từ đò đề ra những biện pháp thích hợp nhằm nâng cao tốc độ luân chuyển của TSNH; là cơ sở góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

>>>>Xem thêm: Mối quan hệ giữa khả năng sinh lợi với hiệu quả kinh doanh

Phân tích tốc độ luân chuyển của TSNH được tiến hành theo quy trình sau

Đánh giá khái quát tốc độ luân chuyển của TSNH:

Khi xem xét tốc độ luân chuyển của TSNH, nhà phân tích thường sử dụng hai chỉ tiêu sau, đó là “Số lần luân chuyển TSNH” và “Thời gian luân chuyển TSNH”

“Số lần luân chuyển TSNH” cho biết trong kỳ kinh doanh, TSNH luân chuyển được mấy lần. Sô lần luân chuyển TSNH càng lớn chứng tỏ sự vận động của TSNH càng tốt, tốc độ luân chuyển của TSNH càng cao. Nói cách khác, chỉ tiêu này cho biết một đồng TSNH sau một kỳ hoạt động đem lại được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Khi tốc độ luân chuyển TSNH càng cao cho thấy doanh thu thuần tạo ra càng nhiều, đây chính là tiền đề để góp phần nâng cao lợi nhuận cũng như hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp

Chỉ tiêu này cho biết thời gian cần thiết bình quân để TSNH luân chuyển được một lần. Chỉ tiêu này có trị só càng thấp càng tốt vì thể hiện tốc độ luân chuyển cao của TSNH, góp phần nâng cao lợi nhuận cũng như hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp.

Sau khi đã tính toán được hai chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển của TSNH ở kỳ phân tích (kỳ báo cáo, năm nay,…) ta thực hiện công cụ so sánh giản đơn bằng số tuyệt đối và số tương đối để thấy quy mô và tốc độ thay dổi của các chỉ tiêu này so với kỳ gốc (kỳ kế hoạch, năm trước,…) và từ đố đưa ra đánh giá sơ bộ về sự thay đổi của chỉ tiêu. Bên cạnh đó việc so sánh còn được thực hiện với số trung bình của ngành hay những doanh nghiệp tiên tiến (hay điển hình) trong ngành để thấy được sự tiến bộ hay thụt lùi của tốc độ luân chuyển TSNH tại doanh nghiệp

– Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến tốc độ luân chuyển của TSNH

Biến đổi công thức tên bằng cách thay thế mẫu số bởi ta có

Dựa vào công thức, ta thấy có ba nhân tố ảnh hưởng đến thời gian luân chuyển TSNH, bao gồm: thời gian kỳ nghiên cứu, TSNH bình tuân, doanh thu thuần. Do thời gian kỳ nghiên cứu là một hằng số (không thay đổi) nên ảnh hưởng của nhân tố này đến thời gian luân chuyển TSNH bằng không (=0)

Sử dụng công cụ loại trừ, ta lần lượt xét ảnh hưởng của các nhân tố còn lại đến sự thay đổi thời gian luân chuyển TSNH như sau

  • Xét ảnh hưởng của nhân tố TSNH bình quân

Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, nhân tố này có mối quan hệ tỷ lệ thuận với thời gian luân chuyển TSNH

  • Xét ảnh hưởng của nhân tố doanh thu thuần

Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, nhân tố này có mối quan hệ ngược chiều với thời gian luân chuyển TSNH

  • Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố, rút ra nhận xét, kết luận và đưa ra kiến nghị

Sau khi đã lần lượt xem xét cụ thể các nhân tố ảnh hưởng, ta tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố lại rồi từ đó rút ra nhận xét, kết luận và đưa ra kiến nghị nhằm cải thiện tốc độ luân chuyển của TSNH. Đồng thời, phải chỉ rõ mức TSNH bình quân tham gia luân chuyển mà DN tiết kiệm được hay bị lãng phí do tốc độ luân chuyển TSNH thay đổi

Sử dụng kỹ thuật loại trừ, ta có thể xác định TSNH tiết kiệm (-) hay lãng phí (+) do sự thay đổi tốc độ luân chuyẻn của TSNH như sau

Nếu thời gian luân chuyển TSNH kỳ phân tích nhỏ hơn kỳ gốc chứng tỏ tốc độ luân chuyển của TSNH đã được tăng lên. Vì vậy, lượng TSNH tiết kiệm được do sự thay đổi này đem lại sẽ tương ứng với dấu âm hay nhỏ hơn không (<). Nói cách khác, việc sử dụng có hiệu quả TSNH bằng cách cải thiện tốc độ luân chuyển của TSNH sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm đợợc một lượng  TSNH tương ốối và từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh. Ngược lại, khi thời gian luân chuyển TSNH kỳ phân tích lớn hơn kỳ gốc chứng tỏ tốc độ luân chuyển của TSNH đã giảm đi. Khi đó, doanh nghiệp sẽ bị lãng phí tương đối một lượng TSNH và kết quả tính toán lúc này tương ứng với dấu dương hay lớn hơn không (0)

Trong quá trình phân tích, để thuận tiện ta có thể lập bảng phân tích tốc độ luân chuyển của TSNH với kết cấu sau:

Tham khảo ngay: học kế toán thực hành ở đâu tphcm

Phân tích điều kiện cần thiết để nâng cao khả năng sinh lợi
5 (100%) 2 votes

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*