Nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán

Nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán

Bài viết nghiên cứu về mối quan hệ giữa thông tin kế toángiá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán, quyết định của các nhà đầu tư là mua, bán hay nắm giữ cổ phiếu và giá trị cổ phiếu chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố.

Một trong các thông tin quan trọng hay nhân tố quan trọng giúp các đối tượng quan tâm ra các quyết định là các thông tin kế toán. Do vậy, mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và các thông tin kế toán, đặc biệt là thông tin lợi nhuận kế toán và thông tin vốn chủ sở hữu có mối liên hệ rất mật thiết.

Có thể bạn quan tâm: Khóa học phân tích báo cáo tài chính

I. Mối quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu

Tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin kế toán là cơ sở quan trọng để bảo vệ nhà đầu tư cũng như tính ổn định của thị trường chứng khoán. Khi tham gia vào thị trường chứng khoán, vấn đề quan trọng và mong muốn của nhà đầu tư là nắm được những thông tin chính xác về thông tin tài chính trên thị trường. Do đó, căn cứ để nhà đầu tư quyết định mua bán cổ phiếu của mình là phân tích tình trạng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Phải thấy rằng vai trò thông tin kế toán của các công ty đại chúng là rất quan trọng đối với hoạt động của thị trường chứng khoán và ảnh hưởng đáng kể đến giá cổ phiếu trên thị trường. Trên thế giới, nhất là sau sự kiện sụp đổ của Tập đoàn năng lượng Erron và Công ty kiểm toán Arthur Andersen gây chấn động nước Mỹ thì mối quan tâm của công chúng, của nhà đầu tư và Chính phủ tới thông tin kế toán công khai của các công ty niêm yết ngày càng tăng. Cơ quan quản lý thị trường chứng khoán của các nước trong đó có Việt Nam đều bổ sung các quy định mới chặt chẽ hơn đối với việc quản lý các công ty niêm yết về công khai tài chính và thông tin kế toán, cũng như các hoạt động kiểm toán.

Mục đích chính của hầu hết các công ty niêm yết là tạo ra sự giàu có cho các cổ đông và các công ty này có những chính sách khác nhau trong việc phân phối lợi nhuận nhưng nếu họ thất bại trong việc tạo ra lợi nhuận, họ dường như chắc chắn gặp khó khăn trong việc huy động vốn cần thiết phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của họ. Do đó, việc tạo ra giá trị hay lợi nhuận không chỉ quan trọng đối với các nhà đầu tư mà đối với cả các nhà quản trị công ty.

Giá trị tạo ra cho các cổ động của công ty niêm yết có thể được xác định trực tiếp từ giá cổ phiếu, tuy nhiên giá trị cổ phiếu luôn luôn thay đổi vì sự xuất hiện của các thông tin mới mà chúng có thể được hoặc không được các nhà quản lý kiểm soát. Vì vậy, các nhà quản trị thường dựa vào thông tin kế toán để đo lường kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và các nhà đầu tư có thể dựa trên các thông tin kế toán được các công ty công bố để giúp họ ra quyết định về đầu tư cổ phiếu.

Hơn nữa, thiết lập mối liên hệ giữa giá cổ phiếu và các số liệu kế toán cung cấp một có sở vững chắc cho các nhà quản lý lập kế hoạch và kiểm soát hệ thống dựa trên các thông tin đó; kết quả là mối quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu là chủ đề đáng được quan tâm trên thực tế.

Không giống như các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào thông tin lợi nhuận kế toán, các nghiên cứu vài năm gần đây không những chủ yếu tập trung vào giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu. giá cổ phiếu của các công ty niêm yết được coi như một biến phụ thuộc, giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu và thông tin lợi nhuận được coi như là các biến độc lập. Khi đó, giá cổ phiếu được giải thích bởi hai biến độc lập trên.

Thông tin kế toán, đặc biệt hai biến số kế toán tổng hợp là thông tin về lợi nhuận và giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu và có ý nghĩa quan trọng trong mô hình hồi quy, bằng cách phân chia các khoản lợi nhuận vào cổ tức và lợi nhuận giữ lại, đồng thời bằng cách cho rằng giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu là tổng vốn chủ sở hữu nhỏ hơn tổng nợ phải trả và các khoản chi tiêu hàng năm về tài sản cố định như một biến giải thích thêm. Tuy nhiên, giá trị thị trường của cổ phiếu chịu ảnh hưởng nhiều của chỉ tiêu vốn chủ sở hữu và không chịu ảnh hưởng của khoản nợ phải trả.

Khi tiến hành nghiên cứu rộng rãi mối quan hệ phụ thuộc của thị trường chứng khoán vào thông tin kế toán, hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm sớm nhất trong lĩnh vực này đều tập trung vào thông tin lợi nhuận và thường sử dụng các chỉ số có liên quan đến thông tin lợi nhuận để phân tích và không dùng những thông tin kế toán khác để giải thích cho giá trị thị trường của mỗi cố phiếu. Tuy nhiên, khi tiến hành nghiên cứu về thông tin lợi nhuận, các nghiên cứu đã nhận thấy rằng thông tin lợi nhuận có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu, nhưng nói chung giá trị của thông tin lợi nhuận chỉ có giới hạn vì mối quan hệ giữa thông tin lợi nhuận và giá cổ phiếu nói chung là không chặt chẽ và không ổn định trong khoảng thời gian dài, nên ngoài thông tin lợi nhuận còn có các thông tin kế toán khác cũng ảnh hưởng. Và kết quả của các nghiên cứu này nghi ngờ sự chính xác về mặt giá trị các khoản lợi nhuận được báo cáo.

Như ở Việt Nam, qua việc phân tích những yếu tố tác động đến hoạt động của thị trường chứng khoán cho thấy việc không tuân thủ các quy định về công bố thông tin, công bố thông tin tài chính không minh bạch, không kịp thời của các công ty đại chúng, các công ty niêm yết đã ảnh hưởng đáng kể đến giá cổ phiếu. Thực tế các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay còn yếu kém trong công bố thông tin, nhiều doanh nghiệp Việt Nam xem việc công bố thông tin chỉ là đối phó, làm cho có.

Nhiều doanh nghiệp không muốn công bố thông tin hay nếu có thì nội dung công bố cũng rất sơ sài, có khi kém chính xác. Do đó một cách khác đó là nghiên cứu vẫn sử dụng những biến số kế toán sẵn có để đánh giá hoạt động tài chính nhưng bắt đầu tập trung nghiên cứu đến mô hình bao gồm cả giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu. Chúng thường được xác định dựa trên quan niệm về thu nhập ròng và thu nhập khác, nhưng trong khi kết hợp giá trị với biến số kế toán hơn là cổ tức vẫn cần phải ước lượng giá trị của các biến trong suốt thời gian hoạt động còn lại của Doanh nghiệp.

Qua đó, giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu hiện tại và thông tin lợi nhuận hiện tại làm tăng sức thuyết phục cho giá trị thị trường của mỗi cổ phiếu hơn những biến khác. Hai biến kế toán này gọi ý cho các nhà đầu tư và nhà quản lý cân nhắc sử dụng số liệu trên cả bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong quá trình ra quyết định hơn là chỉ tập trung vào một trong hai hoặc những báo cáo đơn lẻ khác

Qua nghiên cứu mối quan hệ giữa giá trị cổ phiếu và thông tin kế toán cho thấy nhà đầu tư hoặc người quản lý doanh nghiệp khi đánh giá giá trị hoặc tạo ra giá trị của cổ phiếu nên tập trung phân tích thực nghiệm kết hợp cả hai thông tin kế toán là thông tin lợi nhuận và giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu hơn là chỉ tập trung vào phân tích một thông tin hoặc những thông tin đơn lẻ khác

Nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán

II. Một số đề xuất và kết luận rút ra từ việc nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán

Thứ nhất: Mở rộng quy mô mẫu nghiên cứu không chỉ tập trung nghiên cứu các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán, phải tiến hành nghiên cứu tập hợp tất cả các công ty niêm yết không phân biệt công ty tài chính hay công ty phi tài chính… Từ đó kết quả phân tích thực nghiệm giúp các nhà đầu tư, những người quan tâm sử dụng nó trong thực tế để đưa ra quyết định cho riêng mình.

Thứ hai: Tiếp tục nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu, không chỉ dừng lại ở hai biến kế toán là thông tin lợi nhuận và vốn chủ sở hữu mà còn phải mở rộng ra các biến kế toán khác. Vì qua kết quả phân tích thực nghiệm của nghiên cứu này cho thấy chỉ tiêu giá trị sổ sách của mỗi cổ phiếu (BVS) và lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (MPS). Do đó, còn 77,6% là tác động của các yếu tố khác đến giá trị thị trường của mỗi cổ phiếu nên phải nghiên cứu thêm các chỉ tiêu khác trong tương lai, ví dụ như khoản phải thu, khoản phải trả,…

Thứ ba: Nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu không chỉ dừng lại ở mô hình hồi quy đa tuyến tính bình phương nhỏ nhất mà nên sử dụng thêm mô hình hồi quy đa tuyến tính một chiều và hai chiều cố định

Mô hình một chiều với các hiệu ứng cố định cho phép các biến số trên toàn hệ thống của các công ty không xét đến khoảng thời gian và có thể được thể hiện như sau:

MPSit = ai + b1BVSit + b2EPSit + eit

Sự khác biệt giữa mô hình này và mô hình là thuật ngữ chỉ hệ số chặn đối với mỗi công ty là không đổi theo thời gian. Một thay thế tương đương bao gồm một thuật ngữ hệ số chặn tổng thể là không đổi cho tất cả các công ty và có một sự thay đổi đó là tiến hành nghiên cứu cụ thể cho từng công ty độc lập những phương pháp tiếp cận trực tiếp hơn mà không có một hệ số chặn tổng thể được thông qua ở đây. Đây là một mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển và được dùng để dự báo thông thường nhất.

Mô hình hai chiều với các hiệu ứng cố định cho phép các biến số được xét cho từng công ty và theo từng năm, có thể được thể hiện như sau:

MPSit = a + ci + dtBVSit + b2EPSit + eit

Trong trường hợp này, hệ số chặn được chia thành ba thành phần. Hệ số đầu tiên a là một thuật ngữ về tổng thể giới hạn chặn liên tục đối với tất cả các công ty và theo năm đang xét, bổ sung thêm ci là cụ thể cho từng công ty và liên tục qua thời gian, và một dt là cụ thể cho từng giai đoạn và liên tục giữa các công ty. Đây là một mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển và nó có thể được dự báo được giá trị bình phương thông thường nhỏ nhất

Mô hình tác động ngẫu nhiên đã tạo ra sự thay đổi của các biến số trong giới hạn sai số ngẫu nhiên hơn là hệ số chặn. Mô hình tác động ngẫu nhiên một chiều chia giới hạn sai số thành hai thành phần như sau:

MPSit = a + b1BVSit + b2EPStt + ui + vt +eit

Như trong mô hình một chiều, ui là một biến ngẫu nhiên với phương sai liên tục và có ý nghĩa là số không mà là cụ thể cho từng công ty và liên tục qua thời gian. Các giới hạn sai số thêm vào vt là một biến ngẫu nhiên với phương sai liên tục và có nghĩa là số không, nhưng trong trường hợp này, tác động của vt là đặc trưng cho từng năm và liên tục giữa các công ty.

III. Kết luận

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa thông tin lợi nhuận kế toán và vốn chủ sở hữu với giá trị cổ phiếu của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán. Kết quả nghiên cứu có tính khái quát hóa bởi mẫu nghiên cứu gồm toàn bộ các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán và khoảng thời gian nghiên cứu tương đối dìa (11 năm), do vậy, thông tin lợi nhuận kế toán và vốn chủ sở hữu có tính dự báo đối với giá trị các cổ phiếu của các công ty này.

Ngoài ra, cũng chỉ ra hai loại thông tin quan trọng được các nhà đầu tư và các nhà quản lý đặc biệt quan tâm là thông tin lợi nhuận và vốn chủ sở hữu khi định giá cổ phiếu của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán. Việc tăng thời gian nghiên cứu và tăng kích thước mẫu nghiên cứu có thể giúp giải thích kết quả phân tích của mô hình hồi quy chính xác hơn ở mức độ đáng kể.

Điều này đã tác động lớn đến các nhà đầu tư và nhà quản lý, bởi vì nó giúp các đối tượng quan tâm đến thị trường chứng khoán, đặc biệt là giá cổ phiếu nên tập trung vào giá trị của biến kế toán trong bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh của các công ty trong việc ra quyết định đầu tư thay vì tập trung vào những cảm quan của cá nhân mình. Việc áp dụng mô hình vào phân tích thực nghiệm một biến kế toán (một thông tin kế toán), ví dụ như chỉ phân tích tác động của dòng thông tin lợi nhuận hoặc của thông tin vốn chủ sở hữu có khả năng ít hiệu quả hơn so với những nghiên cứu theo cách phân tích tiếp cận tổng hợp

Do đó, kết quả của phương pháp phân tích này có khả năng tổng hợp hiệu quả hơn, cho thấy rõ mối quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu, cụ thể là thông tin lợi nhuận và vốn chủ sở hữu hơn. Tuy nhiên, các con số mà kết quả phân tích đưa ra có nghĩa là hai dòng thông tin lợi nhuận và giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu có tác dụng dự báo đối với giá trị cổ phiếu của các công ty, tuy nhiên hai thông tin này chỉ tác động 22.4% giá trị cổ phiếu còn 77.6% là tác động của các luồng thông tin khác ngoài hai biến kế toán là lợi nhuận và vốn chủ sở hữu ra khi thiết lập giá cổ phiếu.

Vậy, bên cạnh những kết quả đạt được từ việc phân tích tác động của hai thông tin kế toán trên thì kết quả thực nghiệm cũng mở ra các cơ hội để thực hiện các nghiên cứu kế toán thực chứng khác trong tương lai ở Việt Nam về chủ đề này bằng cách xác định thêm các thông tin kế toán tác động đến giá trị cổ phiếu của các công ty phi tài chính nên yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung và trên Sở giao dịch chứng khoán nói riêng ngoài thông tin lợi nhuận kế toán và vốn chủ sở hữu.

Nguồn tham khảo: NASATI

Nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán
5 (100%) 1 vote

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*