Phân tích mối quan hệ giữa tài sản với nguồn hình thành tài sản

Phân tích mối quan hệ giữa tài sản với nguồn hình thành tài sản

Khi phân tích cấu trúc tài chính mà mới chỉ dừng lại ở việc xem xét cấu trúc riêng rẽ của từng mảng tài sản và nguồn hình thành tài sản mà không phân tích mối quan hệ giữa tài sản với nguồn vốn sẽ không thấy được chính sách sử dụng vốn của DN.

>>>Xem thêm: Ảnh hưởng của sự thay đổi tỷ giá hối đoái

Bởi vậy, để tìm hiểu về mối quan hệ này, nhà phân tích thường sự dụng một trong các chỉ tiêu sau đây:

– Hệ số nợ so với tài sản:

Hệ số này cho biết chính sách sử dụng nợ phải trả để tài trợ tài sản,. Nói cách khác, một đồng tổng tài sản của DN được tài trợ từ mấy đồng nợ phải trả hay mức độ huy động nợ để đầu tư cho toàn bộ khối lượng tài sản mà DN đang sử dụng. Khi chi tiêu này càng nhỏ hơn một(<1) chứng tỏ DN đã dùng nhiều VCSH để mua sắm tài sản hoạt động khiến cho DN tự chủ hơn về tài chính và chủ động trong HĐKD vì thông lệ thuộc nhiều vào nguồn vốn vay nợ. Nhưng nếu chỉ tiêu này có trị số càng cao gần bằng một (=1), chứng tỏ DN càng huy động nhiều nợ để mua sắm tài sản. Điều này khiến cho tình trạng rủi ro tài chính của DN càng lớn. DO đó, nếu DN nào duy trì hệ số này ở mức cao sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc huy động thêm các nguồn vốn từ bên ngoài.

Phân tích mối quan hệ giữa tài sản với nguồn hình thành tài sản

Cá biệt nếu DN làm ăn thua lỗ kéo dài trong nhiều năm hay lỗ luỹ kế càng lớn khiến cho khoản mục lợi nhuận sau thuế chưa phân phối trên BCĐKT có giá trị âm và trị số của khoản mục này là tăng dần khiến cho vốn đầu tư ban đầu của chủ sở hữu ban đầu bị giảm dần đi hay còn gọi là “cụt vốn” hay “ăn vào vốn”; tức là VCSH trên BCĐKT có giá trị âm. Khi đó chỉ tiêu này sẽ có trị số lớn hơn một(>1). học xuất nhập khẩu

– Hệ số khả năng thanh toán tổng quát: Chỉ tiêu này cho biết mức độ đầu tư vào tài sản bằng nợ phải trả. Trị số của chỉ tiêu càng lớn hơn 1, chứng tỏ những tài sản mà DN mua sắm được tài trợ bằng ít nợ pahir trả, tức là được tài trợ chủ yếu bằng nguồn VCSH và do vậy, DN tăng sự độc lập về mặt tài chính. Ngược lại, hệ số này càng gần bằng một, những tài sản của DN khi đó được tài trợ chủ yếu bằng nợ phải trả khiến mức độ độc lập tài chính của DN giảm sút, rủi ro tài chính tăng lên,…

– Hệ số tài trợ: Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản sử dụng trong kinh doanh được đầu tư bao nhiêu từ VCSH. Trị số của chỉ tiêu càng nhỏ hơn một, chứng tỏ những tài sản mà DN mưa sắm được tài trợ bằng ít VSCH, tức là được tài trợ chủ yếu bằng nguồn vốn vay nợ khiến cho DN giảm sự độc lập về mặt tài chính. Ngược lại, khi hệ số này có trị số càng gần bằng 1, cho thấy những tài sản của DN được cải thiện. Chỉ tiêu này có công thức và ý nghĩa hoàn toàn ngược lại so với hệ số tài sản so với VCSH.

Ngoài các chỉ tiêu trên, khi phân tích mối quan hệ giữa tài sản với nguồn hình thành tài sản, các nhà phân tích còn có thể sử dụng một trong các chỉ tiêu khác như: Hệ số tự tài trợ TSDH, hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn, hệ số giữa nguồn tài trợ thường xuyên so với TSDH,…

Để thuận tiện cho việc xem xét mối quan hệ giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản, có thể lập bảng phân tích theo mẫu sau:

Bảng phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn năm N

Bảng phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn năm N

Qua bảng phân tích này giúp cho người sử dụng hiểu được tính hợp lý trong việc huy động và sử dụng vốn để đầu tư cho các loại tài sản của DN. Việc làm này còn giúp cho nhà quản lý nắm được chính sách huy động và phân bổ vốn để xây dựng cho DN có được cấu trúc tài chính phù hợp với HĐKD

>>>Bài viết hay: khoá học phân tích BCTC doanh nghiệp

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*