Vai trò của báo cáo tài chính DNNVV đối với quyết định cho vay của ngân hàng thương mại

Vai trò của báo cáo tài chính DNNVV đối với quyết định cho vay của ngân hàng thương mại

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường mở cửa hội nhập, ngày càng nhiều đối tượng quan tâm đến báo cáo tài chính (BCTC) của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), trong đó có thể coi ngân – hàng thương mại (NHTM) là một trong những đối tượng chính sử dụng bộ báo cáo này, bởi nguồn huy động vốn chủ yếu của DNNVV không phải đến từ thị trường chứng khoán mà từ các ngân hàng thương mại.

Trong khi đó, BCTC lại là hồ sơ quan trọng, bắt buộc mà các DNNVV phải nộp trong bộ hồ sơ vay vốn. Bài viết dưới đây của Phân tích tài chính sẽ tập trung tìm hiểu vai trò của BCTC DNNVV đối với quyết định cho vay của các NHTM. Đây cũng là định hướng để các DNNVV cải thiện chất lượng thông tin trên BCTC, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động huy động vốn, mở rộng sắn xuất – kinh doanh.

Có thể bạn quan tâm: Khóa học phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp

Thực trạng vài trò của báo cáo tài chính DNNVV đối với quyết định cho vay của ngân hàng thương mại Việt Nam

Ngân hàng là một trong những đối tượng sử dụng BCTC DNNVV quan trọng nhất, bởi vay ngân hàng là nguồn vốn vay chính của các DNNVV.

McMahon (1999) chỉ ra rằng doanh nghiệp thường lập BCTC và kế hoạch kinh doanh cho người cung cấp tài chính khi tìm kiếm khoản vay và vốn chủ sở hữu. Trong quá trình các ngân hàng ở Đức cho DNNVV vay, BCTC là nguồn thông tin quan trọng để chấm điểm nội bộ (Zuelch và Burghardt, 2010).

Ở Việt Nam BCTC DNNVV thường có ít tác dụng trong việc đưa ra quyết định cho vay. Việc sử dụng BCTC DNNVV của ngân hàng bị ảnh hưởng bởi quan điểm của giám đốc về vai trò của kế toán, chứ không phải bởi việc sử dụng chuẩn mực kế toán và kiểm toán BCTC.

Việc sử dụng những chuẩn mực báo cáo khác nhau để lập BCTC DNNVV không ảnh hưởng nhiều đến quyết định cho vay của ngân hàng (Kent và Munro, 1999).

Trong một nghiên cứu tương tự, Zuelch và Burghardt (2010) lại chỉ ra rằng việc cung cấp BCTC lập theo IFRS thay vì theo GAAP của Đức sẽ nhận được điểm cộng trong quá trình chấm điểm tín dụng nội bộ. Tuy nhiên, việc miễn kiểm toán cho các công ty nhỏ ở Anh ảnh hưởng đến việc sử dụng báo cáo của các ngân hàng.

Theo báo cáo của POBA (2006), các ngân hàng ở Anh không yêu cầu BCTC từ các công ty nhỏ, mà sử dụng thông tin khác như tài khoản ngân hàng của khách hàng cho mục đích kiểm soát. Từ kết quả khảo sát các ngân hàng ở nhiều quốc gia khác nhau, IFAC/The Banker (2009) khẳng định, BCTC được kiểm toán có tác dụng trong việc xem xét cho DNNVV vay, vì khoảng 66% trong tổng 164 câu trả lời cho rằng chính sách cho vay của họ yêu cầu một số hình thức đảm bảo trên BCTC và BCTC được kiểm toán được xếp hạng là có mức độ đảm bảo cao nhất.

Như vậy, những thông tin tài chính và thông tin phi tài chính như báo cáo hằng năm, báo cáo quản trị và triển vọng thị trường đều được ngân hàng sử dụng để đưa ra quyết định cho vay và thực hiện các biện pháp kiểm soát sau đó. Việc sử dụng BCTC của DNNVV để đưa ra quyết định cho vay dường như phụ thuộc vào một số nhân tố như thực tiễn cho vay của ngân hàng, tính sẵn có và đáng tin cậy của các BCTC.

Vai trò của báo cáo tài chính DNNVV đối với quyết định cho vay của ngân hàng thương mại

Vai trò của báo cáo tài chính so với các nguồn thông tin khác

Để tìm hiểu vai trò của BCTC DNNVV đối với quyết định cho vay của NHTM so với những nguồn thông tin khác, tác giả thực hiện phỏng vấn với nhóm cán bộ tín dụng các ngân hàng thương mại.

Với câu hỏi: Để đưa ra quyết định cho vay, anh/chị quan tâm đến những vấn để gì của doanh nghiệp? Vấn để nào theo anh/chị là quan trọng nhất? Vì sao?

Thì đa số cần bộ tín dụng được phông vấn đều cho rằng những nhân tố như “uy tín của doanh nghiệp và chủ sở hữu của doanh nghiệp”, “tình hình tài chính”, “giá trị tài sản đảm bảo” là những nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết định cho vay của ngân hàng.

Những đánh giá ban đầu về uy tín của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp sẽ tác động đến niềm tin vào tính chính xác của BCTC và quan trọng hơn nữa là khả năng trả nợ của doanh nghiệp.

“Tình hình tài chính” của doanh nghiệp thể hiện qua BCTC được khá nhiều cán bộ tín dụng để cập đến bởi đây là “nguồn thông tin chính thống”.

Nguồn thông tin trên BCTC giúp cán bộ tín dụng đánh giá khả năng thu hồi nợ gốc và lãi cho ngân hàng đúng hạn. Trong trường hợp ngân hàng cho vay tín chấp thì BCTC là nguồn thông tin rất quan trọng để ngân hàng đánh giá doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối tượng doanh nghiệp được vay tín chấp hoặc có bảo lãnh của bên thứ ba rất hạn chế , thường là công ty con của tập đoàn lớn, doanh nghiệp nhà nước, được “chống lưng bởi các ông lớn”. Còn lại, hình thức tiếp cận vốn chủ yếu của DNNVV là vay có tài sản đảm bảo (98%).

Trong trường hợp này thì giá trị tài sản đảm bảo lại là thông tin quan trọng nhất mà ngân hàng quan tâm. 8 trong số 12 người được hỏi cho rằng BCTC là một thủ tục bắt buộc phải có để ngân hàng đưa ra quyết định cho vay nhưng không phải là nguồn thông tin quan trọng nhất bởi tính minh bạch của các thông tin trên báo cáo.

“Chúng tôi không thực sự sử dụng BCTC. Tôi có thể xem xét thông tin về doanh thu nhưng cần kiểm tra với sao kê ngân hàng của doanh nghiệp”.

BCTC ít có tác dụng, chỉ nhằm mục đích đáp ứng tính tuân thủ với chính sách của ngân hàng. Chúng tôi sẽ không chấp nhận khoản vay nếu doanh nghiệp có lỗ dồn tích, vì vậy đầu tiên chúng tôi sẽ kiểm tra xem khách hàng có lễ dồn tích liên tiếp 3 năm không… Nếu BCTC được lập không nhằm mục đích nộp thuế thì sẽ có ích hơn cho chúng tôi”.

Lập lại BCTC cho khách hàng là một cách để thu thập thông tin cho quyết định cho vay, Thông tin tài chính được lấy từ các sổ kế toán nội bộ, phông vấn chủ sở hữu hoặc có khí đến khảo sát tại doanh nghiệp. BCTC thường được sử dụng làm cơ sở cho những yêu cầu và kiểm tra tiếp sau đó:

“Phỏng vấn cá nhân với quản lý và nhân viên kế toán là một cách để kiểm tra lại độ tin cậy của các con số trên BCTC”.

“Tôi có sử dụng một số số liệu trên BCTC nhưng tôi phải xác minh lại con số đó trước khi sử dụng ”.

Ngoài ra, cơ sở dữ liệu nội bộ của ngân hàng, báo cáo tín dụng, thống kê của chính phủ được công bố cũng là những thông tin được sử dụng để đưa ra quyết định cho vay.

Chính vì vậy, khi yêu cầu xếp hạng các thông tin mà ngân hàng quan tâm thì thông tin trên BCTC đứng thứ 3 cùng với thông tin về phương án sử dụng vốn, sau thông tin về tài sản đảm bảo và thông tin về uy tín của doanh nghiệp cũng như uy tín của chủ sở hữu.

Nguyên nhân của việc chưa sử dụng nhiều BCTC của DNNVV

Tìm hiểu nguyên nhân của việc chưa sử dụng nhiều BCTC, những người trả lời phỏng vấn cho rằng, BCTC của các doanh nghiệp không phần ánh đúng thực trạng doanh nghiệp, mà điều này thì “ngay cả các công ty kiểm toán cũng khó nhận ra chứ chưa nói gì đến ngân hàng chúng tôi”– một cán bộ tín dụng chia sẻ.

“BCTC của DNNVV không đáng tin cậy, so với BCTC của doanh nghiệp niêm yết. Chúng tôi yêu cầu BCTC từ khách hàng nhưng chúng tôi biết rằng BCTC đó được lập cho mục đích thuế”.

“Chúng tôi xem xét thông tin về tài sản, nợ phải trả, doanh thu nhưng biết chắc rằng những thông tin đó đã bị điều chỉnh nhằm mục đích tránh thuế”.

Bên cạnh đó, theo quy định, BCTC của các DNNVV được lập trên nguyên tắc giá gốc mà không phải theo giá trị thị trường, dẫn đến hạn chế trong việc sử dụng số liệu để phân tích cũng như dự báo.

Một số người được phỏng vấn cho rằng DNNVV thường thiếu kỹ năng quản trị doanh nghiệp và sự minh bạch hóa thông tin. Điều này được mInh chứng khi một ngân hàng muốn xem lại sổ sách kế toán của một công ty. Bên cạnh việc thiếu kỹ năng kế toán, DNNVV thường lập các bộ sổ sách kế toán khác nhau: BCTC nộp cho cơ quan thuế và BCTC nội bộ. Cán bộ ngân hàng có thể nhận được BCTC thực (BCTC nội bộ) của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu dựa vào bộ báo cáo này để cho vay thì hoàn toàn thiếu tính pháp lý. Ngược lại, nếu dựa vào BCTC nộp cho cơ quan thuế thì doanh nghiệp lại thường không đáp ứng yêu cầu để cho vay vì năng lực tài chính không đủ bới “không doanh nghiệp nào muốn nộp đủ thuế và đương nhiên BCTC nộp cho cơ quan thuế cũng phải điều chỉnh giảm lợi nhuận để giảm số thuế phải nộp”.

Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với một số nghiên cứu trước đó về DNNVV ở Việt Nam. Các ngân hàng ở Việt Nam phải đưa ra quyết định cho vay khi thiếu thông tin về các DNNVV. Kết quả là, họ phải dựa vào niềm tin và tất nhiên sẽ đối mặt với những rủi ro đáng kể.

Do chất lượng thông tin mà các DNNVV cung cấp được đánh giá là không cao vì thiếu tính so sánh, tính kịp thời nền các ngân hàng thường cho rằng DNNVV có “rủi ro cao” dẫn đến trong nhiều trường hợp ngân hàng đình chỉ quyết định cho vay. Khi nhu cầu vay vốn của DNNVV rất lớn nhưng khả năng tiếp cận được vốn vay chỉ dừng ở mức độ nhất định, có tới 35% DNNVV rất khó tiếp cận và 34.8% không tiếp cận được vốn vay của các NHTM.

Nhiều mục trong BCTC không hữu ích đối với các ngân hàng và các ngân hàng phải dựa vào các nguồn thông tin khác như trực tiếp đến tìm hiểu để đánh giá tình hình tài chính của các DNNVV. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng liên hệ trực tiếp giữa ngân hàng và khách hàng đóng một vai trò quan trọng trong mối quan hệ giữa ngân hàng và DNNVV. Cần bộ tín dụng thường sử dụng vào trang web của khách hàng để có được thông tin họ cần,

Xu hướng sử dụng BCTC trong việc đưa ra quyết định cho vay của ngân hàng

Như vậy từ thực tế trên có thể thấy rằng BCTC chưa có tác dụng nhiều cho các NHTM khi đưa ra quyết định cho vay bởi các ngân hàng ở Việt Nam vẫn thường xem xét cho vay dựa vào giá trị tài sản đảm bảo, đồng thời theo đánh giá của họ thì tính đáng tin cậy của BCTC DNNVV là không cao.

Mặc dù vậy, khi được hỏi về “xu hướng sử dụng BCTC trong tương lai khi ngân hàng đưa ra quyết định cho vay” thì các cán bộ tín dụng đều khẳng định đó là điều tất yếu bởi các lý do sau:

Thứ nhất, việc xử lý tài sản đảm bảo là biện pháp cuối cùng của các ngân hàng buộc phải thực hiện để xử lý các món nợ xấu. Thực tế, các ngân hàng thương mại đang gặp nhiều khó khăn trong việc xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình xử lý tài sản bảo đảm nợ vay và thu hồi nợ của ngân hàng. Cụ thể, để đem tài sản ra bán đấu giá phải trải qua nhiều giai đoạn, thời gian kéo đài so với quy định như các thủ tục liên quan đến xác minh tài sản, cưỡng chế tài sẵn, cách định ranh, đo vẽ lại tài sản, thẩm định giá tài sản.

Bên cạnh đó, tòa án không nhận đơn kiện của các ngân hàng khi không xác định nơi cư trú, nơi hoạt động của các khách hàng vay nợ, bên bảo lãnh (khách hàng thay đổi nơi cư trú để trốn nợ).

Ngoài ra, một vài tòa án ở một số quận – huyện không nhận hoặc đình chỉ xét xử với 1í do ngân hàng không bổ sung một số giấy tờ không có trong quy định. Một số trường hợp tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng thế chấp với lý do khi nhận thế chấp, ngân hàng không đưa vào hợp đồng thế chấp các tài sản gắn liền trên đất như nhà ở, nhà ở khu vực nông thôn không có giấy phép xây dựng và thủ tục hoàn công.

Một số ngân hàng còn cho biết, dù bản án, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự đã nêu rõ khách hàng không trả nợ theo đúng thời gian cam kết thì cơ quan thi hành án có quyền phát mãi tài sản đảm bảo nhưng thực tế một số chấp hành viên cơ quan thi hành án vẫn yêu cầu các đương sự thỏa thuận lại thời hạn trả nợ và cho khách hàng gia hạn thời hạn để trả nợ trước khi có quyết định kê biên, cưỡng chế, phát mãi tài sản bảo đảm, dẫn đến việc xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ bị kéo đài…

Như vậy, việc quá chú trọng đến tài sản bảo đảm của doanh nghiệp mà coi nhẹ các thông tin trong BCTC có thể dẫn đến việc đánh giá không đúng về doanh nghiệp và có nguy cơ dẫn đến một khoản nợ xấu trong tương lai đối với ngân hàng. 

Mặc dù có tài sản bảo đảm, việc xử lý tài sản này để thu hồi nợ cũng sẽ tốn nhiều thời gian và chi phí của ngân hàng.

Thứ hai, theo xu hướng phát triển của thị trường chứng khoán hiện nay, các doanh nghiệp muốn niêm yết để huy động vốn từ nhà đầu tư sẽ phải hoàn thiện BCTC theo hướng minh bạch hóa và đáng tin cậy hơn. Xu hướng sử dụng và phân tích các thông tin từ BCTC của doanh nghiệp sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro phát sinh các khoản nợ xấu trong tương lai, do đánh giá đúng được tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn.

Như vậy, có thể khẳng định xu hướng sử dụng BCTC để đưa ra quyết định cho vay là yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên, những người trả lời phỏng vấn đều bày tỏ sự quan tâm đến việc nâng cao chất lượng thông tin trên BCTC để đáp ứng nhu cầu sử dụng của họ. Bởi với thực trạng BCTC như hiện nay thì tính đáng tin cậy chưa cao và chưa đáp ứng được những đặc điểm của một thông tin tốt. Khi ngân hàng không tin tưởng vào những thông tin DNNVV cung cấp, họ sẽ áp dụng mức lãi suất cao đối với các khoản tín dụng cho doanh nghiệp. Đây chính là hệ quả của việc chất lượng thông tin không tốt dẫn đến chi phí sử dụng vốn cao hoặc thậm chí không tiếp cận được vốn vay.

Bởi thực tế theo thống kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), đến cuối năm 2016, mới chỉ có 30% DNNVV tiếp cận được vốn ngân hàng và số vốn họ được vay chỉ chiếm 3% tổng vốn các ngân hàng cho vay trong nền kinh tế (Quang Lê, 2016). Con số này thực sự là một nghịch lý, nếu so với số lượng khoảng 600.000 DNNVV tính đến thời điểm này.

Kết luận

Có thể thấy rằng BCTC của DNNVV được cán bộ tín dụng sử dụng, phân tích. Tuy nhiên, việc sử dụng thông tin trên bộ báo cáo này chủ yếu mang tính hình thức nhằm đáp ứng yêu cầu về mặt thủ tục quy trình mà chưa thực chất và đương nhiên đây không phải là nguồn thông tin quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định cho vay của NHTM.

Nguyên nhân chính được đề cập đến là do chất lượng thông tin trên BCTC DNNVV chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của NHTM. Thực tế này dẫn đến những khó khăn của DNNVV trong việc tiếp cận vốn vay của ngân hàng hoặc phải chịu chi phí sử dụng vốn cao. Vì vậy, cải thiện chất lượng thông tin trên BCTC DNNVV, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các NHTM là yêu cầu tất yếu, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động huy động vốn, mở rộng kinh doanh của doanh nghiệp.

Nguồn bài viết: NASATI

Trên đây Phân tích tài chính đã chia sẻ cho bạn đọc bài viết phân tích vai trò của báo cáo tài chính DNNVV đối với quyết định cho vay của ngân hàng thương mại. Các bạn quan tâm có thể tham khảo thêm các bài viết:

Vai trò của báo cáo tài chính DNNVV đối với quyết định cho vay của ngân hàng thương mại
5 (100%) 1 vote

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*